Nhân vật - Sự kiện
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam

Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính v́ vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đă sử dụng S-75.

Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lănh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa pḥng không số 236 Quân khu pḥng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đă bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.

Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Phi công Mỹ lắp vũ khí cho máy bay lên thẳng UH-1 chuẩn bị đánh nhau với các du kích Việt Cộng tại tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, 18/3/1963 . (Ảnh:Horst Faas/AP)

Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa pḥng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đă diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ năo của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các pḥng thiết kế Xô Viết và Mỹ.

Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa pḥng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đă giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.

Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa pḥng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đă chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:

15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.

Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa pḥng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ th́ đă rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).

Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đă cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa pḥng không.

Đến cuối chiến tranh đă có 6.806 quả đạn đă sử dụng và bị mất (trên lănh thổ Trung Quốc), lực lượng c̣n sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.

Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa pḥng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đă dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).

Ngoài các chiến sỹ tên lửa pḥng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục T́nh báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.

Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đă tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lănh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.

Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đă đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc c̣n lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. C̣n bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.

Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lănh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.

Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những h́nh ảnh trên truyền h́nh về chiến tranh có khi c̣n quan trọng hơn cả chính chiến tranh.

Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài g̣n và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)

Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đă bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mănh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đă chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài g̣n.

Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những h́nh ảnh này trên màn h́nh TV ngay trong nhà của ḿnh. Và đến lúc này th́ không ai và không cái ǵ có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đă hiểu rằng người Mỹ đă thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.

Đến đầu năm 1968 th́ lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng ḥa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.

Chiến dịch Mậu Thân này đă làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lư –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.

Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đă thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đă sát hạt toàn những người dân thường vô tội.

Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa h́nh quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.

Vụ thảm sát Sơn Mỹ đă tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đă quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đă sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.

Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ c̣n là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà c̣n là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đă bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.

Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. C̣n ngay trong ḷng nước Mỹ th́ hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đă trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.

Cuộc chiến tranh thông tin đă thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính v́ thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đă không c̣n một chút ư nghĩa nào.

Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” th́ không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xă hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).

Đây là lư do v́ sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đă băi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.

Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh:
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh: AP)
Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xă hội của nước ḿnh chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).

Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ th́ đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh pḥng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).

Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác th́ họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).

Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đă tiến hành các đợt đột kích sang lănh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đă thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.

Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đă tấn công Nam Việt Nam.

Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển h́nh giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đă chiếm được một vùng lănh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).

Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đă đạt những điều ḿnh muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) rút người Mỹ cũng đă đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đă chiến thắng để giữ thể diện.

Trong chiến dịch này Mỹ đă ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công tŕnh. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-2 1 những đă hạ 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.

Các tổ hợp tên lửa pḥng không S-75 đă bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa pḥng không S-75). Có lẽ v́ thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.

Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được kư kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đă phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lư cực mạnh.

Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa một khối lượng vũ khí khổng lồ.

Quân đội Nam Việt Nam về mặt h́nh thức đă là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu th́ Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đă không c̣n ư nghĩa ǵ nữa.

Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đă được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài g̣n có khi c̣n hiểu rơ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài G̣n hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ c̣n chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lư tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.

Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lănh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).

Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài G̣n cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. V́ thế họ đă tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài G̣n), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.

Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài G̣n –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài G̣n. Cuộc “di tản” các lực lượng này đă nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.

Nắm được thời cơ, Hà Nội không c̣n một chút do dự ǵ nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này th́ không ai và không cái ǵ có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa tan ră. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài G̣n.

Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả địa chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự (thế giới-ND) th́ cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc th́ h́nh thái chiến tranh cổ điển này càng lùi sâu vào quá khứ. Thay thế h́nh thái chiến tranh này (chiến tranh cổ điển-ND) là cuộc chiến tranh công nghệ cao và phương án đáp trả phi đối xứng đối với nó (công nghệ cao-ND) là các cuộc chiến tranh nổi dậy (du kích-khủng bố).

Ngoài ra, chiến tranh thông tin ngày càng có ư nghĩa quan trọng, đôi khi c̣n thay thế hoàn toàn các h́nh thái chiến tranh khác.

 Theo Dân Trí (Lê Hùng lược dịch)
 
«  Trở về  
Thảo luận của bạn
Họ và tên
Địa chỉ hòm thư
Ý kiến của bạn
Ảnh mã bảo vệ
Đổi mã bảo vệ ấn F5
Mã bảo vệ:
Ảnh mã bảo vệ toàn là ký tự ( không có số )

Danh sách thảo luân:

    Những tin bài khác:
         •  Gặp mặt truyền thống Học viên VN tại HV Quân chính Lê Nin 02/11/2014 tại Hà Nội
         •  Học viện chính trị quân sự mang tên V.I. Lê - nin
         •  Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhân 100 ngày sinh
         •  Nhà chính trị đi trước nhà quân sự
         •  Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thăm Đại tướng Vơ Nguyên Giáp
         •  Chỉnh đốn Đảng, đọc sử xưa ngẫm chuyện nay
         •  Tướng Huỳnh Đắc Hương:
         •  Tṛ chuyện cùng vị tướng một đời với biển
         •  Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, những điều tôi biết
         •  Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải

 
ictgroup.vn