Tư liệu - Tài liệu
Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 4: Thành công không được ca tụng

Cuộc Đại khủng hoảng diễn ra khiến cho dân chúng mất phương hướng, niềm tin vào thị trường nhường chỗ cho niềm tin vào chính phủ. Trong khi đó, Liên Xô với nền kinh tế kế hoạch tập trung, trở thành một cường quốc chỉ sau vài thập niên. Người ta không biết điều ǵ diễn ra sau “bức màn sắt”, chỉ biết Liên Xô trở thành một nước rất mạnh và không có thất nghiệp.

Hệ thống xă hội chủ nghĩa h́nh thành sau Đại chiến thế giới 2 lại trở thành mối đe dọa đối với phương Tây. Kinh tế học vĩ mô của John Maynard Keynes, một học thuyết pha trộn giữa kinh tế học cổ điển truyền thống và kinh tế kế hoạch, được coi là giải pháp để “cứu chủ nghĩa tư bản”. Về lư thuyết, nó vẫn để thị trường làm phận sự của ḿnh nhưng Nhà nước “nắm đằng chuôi”, thông qua chính sách tài khóa. Nhưng các nhà chính trị thường có khuynh hướng lấn tới, “dấn thân” vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, thâm nhập sâu vào miếng ăn giấc ngủ của người dân và gánh thêm nhiều sứ mệnh khác. Nợ công được “thể chế hóa” thành công cụ điều hành nền kinh tế và thực hiện các “sứ mệnh cao cả”.

Việc dùng những món nợ khổng lồ để tăng đầu tư công nhằm “toàn dụng lao động” mà ngày nay chúng ta đang áp dụng chính là sáng kiến của Keynes, bất chấp những hậu quả trong dài hạn, thậm chí ông cũng không che giấu hậu quả đó bằng câu nói nổi tiếng “trong dài hạn, tất cả chúng ta đều chết” (do bài này chỉ đề cập đến những vấn đề lịch sử liên quan đến nợ công nên tôi không đi vào các phân tích và tranh luận kinh tế học).

Nước Mỹ và châu Âu đạt được thành tựu 30 năm huy hoàng. Keynes trở thành thần tượng của các nhà kinh tế. John Kenneth Galbraith, một kinh tế gia người Mỹ từng viết: “Kinh tế học cổ điển trước đây thường dạy vào ban ngày, nhưng kể từ năm 1936, các buổi tối hầu hết mọi người đều nói về Keynes”.

 

Theo quan điểm của Keynes đang thịnh hành lúc đó về nền kinh tế th́ thất nghiệp và lạm phát giống như tṛ chơi bấp bênh của trẻ em, một bên lên th́ một bên xuống...

Alan Greenspan,
cựu Giám đốc Cục Dự trữ liên bang Mỹ, trong cuốn hồi kư Kỷ nguyên hỗn loạn

Đầu những năm 1960, trong ṿng 5 năm, dưới thời các tổng thống Kennedy và Johnson, nước Mỹ đă tạo thêm 7 triệu việc làm, GDP tăng 1/3. Báo cáo thường niên của Hội đồng cố vấn kinh tế vào đầu năm 1965 làm cả nước Mỹ hào hứng, thị trường chứng khoán bùng nổ và đến cuối năm, tạp chí Time đưa h́nh Keynes lên b́a với tuyên bố “Giờ đây tất cả chúng ta đều theo Keynes”. Nước Mỹ tự tin là các nhà hoạch định chính sách sẽ giúp chính phủ dự đoán và định hướng được sự phát triển trong tương lai.

Nhưng nền kinh tế dần dần đi vào bất ổn. Ngoài mọi dự báo của các nhà kinh tế, đến năm 1970, thất nghiệp lên tới 6%, tương đương với khoảng 5 triệu người. Và thay v́ giảm như tất cả các mô h́nh dự báo, lạm phát lên mức 5,7%, là mức rất cao ở thời điểm đó.

Alan Greenspan, cựu Giám đốc Cục Dự trữ liên bang Mỹ ghi trong cuốn hồi kư Kỷ nguyên hỗn loạn (*) của ḿnh: “Theo quan điểm của Keynes đang thịnh hành lúc đó về nền kinh tế th́ thất nghiệp và lạm phát giống như tṛ chơi bấp bênh của trẻ em, một bên lên th́ một bên xuống… Tuy nhiên mô h́nh kinh tế của Keynes đă thất bại trong việc giải thích hiện tượng cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng ở mức phi mă”. Greenspan nhớ lại, một cuộc khảo sát dư luận vài năm sau đó cho thấy dân chúng xếp khả năng dự báo của các nhà kinh tế ngang hàng với khả năng dự báo của các nhà thiên văn học khiến cho ông phải tự hỏi “không biết các nhà thiên văn học đă dự báo sai điều ǵ”.

Cuộc khủng hoảng dầu lửa diễn ra năm 1973 làm cho nền kinh tế Mỹ tồi tệ hơn, thất nghiệp vẫn gia tăng c̣n lạm phát th́ lên tới 2 con số. Năm 1974, nước Mỹ ch́m trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ năm 1930.

Thất bại trong chiến tranh Việt Nam và vụ bê bối Watergate khiến tổng thống Nixon từ chức, để lại cho Gerald Ford một nước Mỹ đầy thương tích cùng chằng chịt những dây nhợ trói buộc, như Greenspan mô tả: “Thật khó tưởng tượng được những doanh nghiệp Mỹ đă bị hạn chế như thế nào. Các ngành hàng không, vận chuyển bằng xe tải, đường sắt, đường ống dẫn dầu, điện thoại, vô tuyến, những người môi giới cổ phiếu, thị trường tài chính, các ngân hàng tiền gửi tiết kiệm, những ngành phục vụ đều hoạt động dưới những quy định nặng nề, các hoạt động được giám sát tới từng chi tiết nhỏ nhất”.

 
Có lẽ trong thế kỷ 20, Ford là một trong số ít những tổng thống nghĩ đến sự phát triển bền vững dài hạn hơn là “tư duy theo nhiệm kỳ”.

Nhưng Gerald Ford đă không dùng “bảo điển” của Keynes, ông làm ngược lại những ǵ mà F.D. Roosevelt đă làm. Ông tuyên bố sẽ “tháo xiềng xích cho các doanh nhân Mỹ”, cam kết với các doanh nghiệp “để Chính phủ liên bang tránh xa doanh nghiệp của các vị, khỏi cuộc sống, khỏi ví tiền và không chạm tới một sợi tóc của các vị nếu tôi có thể”. Ông đă phát động một chiến dịch phi luật lệ hóa để “xóa bỏ những điều nực cười” mà Greenspan mô tả ở trên. Greenspan gọi “đó là một thành công không được ca tụng”. Ford đă làm cho nền kinh tế Mỹ dần dần hồi phục, nhưng cho đến khi người ta nhận ra những giải pháp của ông là đúng th́ cuộc bầu cử đă qua. Ông đă thất cử, Jimmy Carter lên làm tổng thống từ đầu năm 1977.

Có lẽ trong thế kỷ 20, Ford là một trong số ít những tổng thống nghĩ đến sự phát triển bền vững dài hạn hơn là “tư duy theo nhiệm kỳ”. “Thành công không được ca tụng” của Ford tạo một bước khởi động của sự đồng thuận mới trong lịch sử nước Mỹ: Chính phủ lùi dần ra khỏi thị trường.

Tất nhiên Gerald Ford, cũng như các tổng thống khác sau này không có khả năng giảm nợ. Tuy có sự đồng thuận lùi dần ra khỏi thị trường nhưng nợ nần đă ăn sâu vào các thiết chế kinh tế của Mỹ, mọi nỗ lực chỉ có thể làm chậm lại tốc độ tăng nợ mà thôi.

Vào năm 1994, Milton Friedman, nhà kinh tế Mỹ nổi tiếng đoạt giải Nobel năm 1976 c̣n nhận xét: “Chính phủ không c̣n chú tâm vào hoạt động sản xuất nữa mà chú tâm vào việc điều tiết một cách gián tiếp các doanh nghiệp được cho là của tư nhân và c̣n chú tâm hơn vào các chương tŕnh tái phân phối thu nhập của chính phủ, bao gồm việc thu thuế của một số người nhằm bao cấp cho một số người khác - tất cả đều nhân danh công bằng và xóa đói giảm nghèo nhưng trên thực tế lại tạo ra sự hỗn độn đầy mâu thuẫn và thất thường của những khoản bao cấp cho những nhóm lợi ích đặc biệt. Kết quả là phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng ngày càng gia tăng” (**).

Theo: Thanh Niên

 
«  Trở về  
Thảo luận của bạn
Họ và tên
Địa chỉ hòm thư
Ý kiến của bạn
Ảnh mã bảo vệ
Đổi mã bảo vệ ấn F5
Mã bảo vệ:
Ảnh mã bảo vệ toàn là ký tự ( không có số )

Danh sách thảo luân:

    Những tin bài khác:
         •  Thủ lĩnh Ḷ Văn Hặc
         •  Hướng phong trào thi đua vào thực hiện nhiệm vụ chính trị
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 3: Khi tự do bị chối bỏ
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 2: Thành quả diệu kỳ của bản Hiến pháp tự do
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 1: Lời cảnh báo của Thomas Jefferson
         •  Kết hợp đấu tranh tại Ṭa với đấu tranh ngoài Ṭa.
         •  Kiện hay không nên kiện Trung quốc?
         •  UNCLOS và mưu toan vô hiệu hóa UNCLOS của Trung quốc
         •  Phát biểu của Thủ tướng tại hội nghị ASEAN
         •  50 năm Khu tập thể quân đội Nam Đồng

 
ictgroup.vn