Tư liệu - Tài liệu
Kiện hay không nên kiện Trung quốc?

Kiện hay không nên kiện Trung quốc?

                                          Luật sư Lê Đức Tiết. PCN HĐTV DC&PL UBTW MTTQ VN.

 

           Trung quốc ngang nhiên huy động nhiều tàu thuyền quân sự và bán quân sự hỗ trợ cho việc đặt giàn khoan dầu vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trước sự việc, nhiều học giả trong nước và ngoài nước gợi ư Việt Nam nên tiến hành ngay vụ kiện đối với Trung quốc ra Ṭa án quốc tế như Phi-lip-pin đă làm. Nhiều học giả quả quyết rằng, nếu kiện, Việt Nam nhất định thắng. Trung quốc nói rằng chủ quyền của họ ở Biển Đông là không thể tranh cải. Nhưng họ chẳng có thể đưa ra được một chứng cứ khả dĩ nào để bảo vệ. Trái lại Việt Nam có rất nhiều chứng cứ khách quan về mặt lịch sử, pháp lư và thực tế để khẳng định rằng Trung quốc đă cướp đoạt lănh thổ và xâm phạm chủ quyền trên biển của Việt Nam. Hơn bất cứ nước nào trong vùng, Việt Nam là nước hiện có nhiều chứng cứ khách quan để khẳng định chủ quyền quốc gia không thể bác bỏ được đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường sa trên biển Đông. Ḷng tin thắng kiện hoàn toàn có cơ sở. Trung quốc tuy có nhiều tàu chiến, có vũ khí nguyên tử, có tên lửa vượt đại dương, có đội quân đông nhất thế giới, nhưng lại rất sợ phải đương đầu với thần Công lư.

        Tuy vậy việc kiện không phải là chuyện hễ muốn là làm ngay được. Trước khi gửi đơn kiện, có những câu hỏi dưới đây:

       - Kiện hay không nên kiện? Tại sao?

       - Kiện ai? Kiện Chính phủ TQ hay Công ty Hải dương 981 TQ?

       - Ai kiện? Chính phủ hay Tổ chức phi chính phủ của Việt Nam?

       - Kiện ra Ṭa án nào? Nếu Ṭa án quốc tế th́ Ṭa án quốc tế nào?

       - Lư do, mục đích vụ kiện của Nguyên đơn?

       - Cơ sở pháp lư để tiến hành vụ kiện?

       - Chiến lược, sách lược tiến hành vụ kiện?

       - Lộ tŕnh tiến hành vụ kiện?

       - Hồ sơ pháp lư của vụ kiện?

       - Nhân lực tiến hành vụ kiện?

       - Lư lẻ biện hộ của bị đơn sẻ là ǵ?

                và một số vấn đề thuộc về kỷ thuật pháp lư khác.

      Các câu hỏi này cần có sự giải đáp thỏa đáng về tất cả các khía cạnh: pháp lư, chính trị, xă hội, ngoại giao, kinh tế…bởi tác động nhiều mặt của vụ kiện.

      Trước hết Ṭa án quốc tế không phải là Ṭa án tối cao của các quốc gia. Ngoại trừ việc xét xử tội ác chiến tranh, các vụ kiện tranh chấp giửa các quốc gia được Ṭa án quốc tế thụ lư chỉ khi các quốc gia, bên kiện cũng như bên bị kiện, đều đồng thuận yêu cầu Ṭa xét xử. Trong tranh chấp chủ quyền trên biển Đông với Phi-lip-pin, Trung quốc đă thẳng thừng từ chối ra ṭa. Vậy Trung quốc có thể ngăn chặn Phi-lip-pin và Việt Nam đưa vụ kiện ra trước Ṭa án quốc tế bằng “quy chế đồng thuận” này chăng? May thay, không phải vậy. Quyền lợi, trách nhiệm của các quốc gia đối với các vùng biển thuộc chủ quyền các nước ven biển và vùng biển quốc tế cũng như thẩm quyền, quy tắc, tŕnh tự, thủ tục của Ṭa án quốc tế khi giải quyết các vụ tranh chấp về biển đă được quy định trong Công ước về luật biển quốc tế năm 1982. Như vậy các vụ tranh chấp về biển đă có cơ sở pháp lư quốc tế để giải quyết cho dù một bên từ chối ra ṭa. Hơn nửa Trung quốc đă kư kết tham gia Công ước và nước kư kết Công ước về luật biển năm 1982 không có quyền bảo lưu (!). Điều này đồng nghĩa với việc Trung quốc không có cơ sở pháp lư để phủ nhận Công ước và thẩm quyền xét xử của Ṭa án quốc tế về Luật biển. Việc Trung quốc từ chối ra Ṭa bộc lộ khá rơ t́nh thế tiến thoái lưỡng nan của họ. Trung quốc khăng khăng cho rằng việc tranh chấp ở biển đông chỉ là việc giửa từng nước có liên quan với Trung quốc. Trung quốc phản đối việc quốc tế hóa vụ việc. Đây không thể là lư lẻ biện hộ trước Pháp đ́nh. Trung quốc cố t́nh làm ngơ trước sự thật hiển nhiên. Biển Đông ngày nay đă trở thành đường giao thông huyết mạch của tất cả các nước trên thế giới, không phải chỉ riêng với các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á, càng không phải chỉ riêng đối với Trung quốc với nước riêng lẻ trong khối ASEAN.

      Trung quốc là Ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc và có quyền phủ quyết. Chính dựa vào điều này mà Trung quốc tin rằng vụ kiện chẳng đi đến đâu v́ họ có thể vô hiệu hóa phán quyết của Ṭa. Trung quốc cho rằng phán quyết của Ṭa mà không có hiệu lực thực thi th́ có cũng như không. Đây chính là sai lầm trong tính toán của họ. Khi Ṭa án quốc tế về luật biển phán quyết rằng đường lưỡi ḅ 9 đoạn của Trung quốc là trái với công ước quốc tế về luật biển năm 1982 th́ mọi ḥn đảo, mọi công tŕnh mà Trung quốc đă và đang xây dựng trên biển Đông là chiếm đoạt của các nước có chủ quyền. Theo công pháp quốc tế, lănh thổ bị chiếm đóng bằng vũ lực không bao giờ thuộc quyền nước chiếm đóng. Nó vẫn măi .măi thuộc nước đă chiếm hữu nó về lịch sử, pháp lư và thực tế. Trung quốc lộ nguyên h́nh là kẻ xâm lược. Điều này sẻ gây ra cho Trung quốc nhiều hệ lụy không thể lường hết. Trung quốc đă ngang nhiên tuyên bố thiết lập vùng nhận diện pḥng không trên biển Hoa Đông, chồng lấn lên không phận của Nhật bản, Hàn Quốc và buộc tàu bay các nước phải xin phép Trung quốc trước khi bay vào vùng nhận diện pḥng không của họ. Trung quốc ngang nhiên tuyên bố thời gian cấm  đánh bắt cá trên biển Đông. Trung quốc lăm le công bố vùng nhận diện pḥng không đối với biển Đông. Những tuyên bố trên đây bị nhiều nước coi là vô giá trị. Trung quốc muốn tự đặt ra luật để bắt các nước phải tuân theo. Đó là cách hành xử theo luật rừng, là di căn của đường lối ngoại giao pháo hạm c̣n sót lại. Việt Nam sẻ đấu tranh đến cùng để đ̣i công lư. Chúng ta sẻ hành động khi đă tin tưởng vào sự chắc thắng. Nếu Trung quốc có đủ lư lể để chứng minh được những điều sau đây th́ họ chắc chắn sẻ không chối từ việc có mặt tại ṭa :

-         1) Ṭa án quốc tế không có thẩm quyền xét xử đối với vụ việc.

-         2) Đường lưỡi ḅ của họ là phù hợp với Công ước quốc tế về luật biển năm 1982.

-         3) Việt Nam không có tư cách pháp lư để tiến hành vụ kiện.

-         4) Chính phủ Trung quốc không thể bị kiện ra trước Ṭa.

-         5) Thời hiệu vụ kiện đă hết.

     Cũng là điều dễ hiểu tại sao Trung quốc thẳng thừng từ chối việc ra Ṭa. Họ đă dùng mọi cách để hăm dọa, “khuyên bảo” Phi-lip-pin rút lại đơn kiện. Nhưng Phi-lip-pin không hề nao núng. Những đ̣n đáp trả của Phi-li-pin đối với hành vi xâm phạm chủ quyền của nước họ khiến cho Trung quốc rất lúng túng.

      Việc Việt Nam kiện Trung quốc ra Ṭa án quốc tế về Luật biển là việc nên  làm. Trên b́nh diện nội bộ cũng như b́nh diện quốc tế, vụ kiện này không chỉ phục vụ nhiệm vụ trước mắt mà c̣n v́ những lợi ích lâu dài về sau. Nó phù hợp với quan điểm chung của thế giới là giải quyết tranh chấp bằng phương pháp ḥa b́nh. Đấu tranh bằng pháp lư cũng thuộc phương châm giải quyết tranh chấp bằng biện pháp ḥa b́nh và là biện pháp văn minh của nhân loại văn minh. Tuy vậy việc tiến hành vụ kiện phải có mục đích rơ ràng, phải có chiến lược, sách lược cụ thể và phải được chuẩn bị công phu.

      Mục đích chính của vụ kiện là để có sự phán quyết của ṭa án quốc tế rằng đường lưỡi ḅ chín đoạn của Trung quốc là trái Công ước quốc tế về luật biển năm 1982. Các ḥn đảo và các công tŕnh mà Trung quốc xây dựng tại biển Đông không thuộc chủ quyền về lịch sử, về pháp lư và về thực tế của Trung quốc. Với mục đích vụ kiện như vậy th́ dễ được Ṭa và công luận chấp nhận. Việc đặt ra các mục tiêu cao hơn và rộng hơn sẻ làm tiếp sau khi đă đạt được mục tiêu nói trên.

       Khi tiến hành vụ kiện, phải kết hợp chặt chẻ việc đấu tranh tại Ṭa với đấu tranh ngoài Ṭa. Phải tranh thủ được sự đồng t́nh của nhân dân và chính phủ các nước. Chúng ta tin là có thể làm được điều này v́ biển Đông là con đường giao thông huyết mạch của cả thế giới. V́ quyền lợi thiết thân của họ, các nước không bao giờ chịu để biển Đông trở thành ao nhà của Trung quốc. Khi Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của các chính phủ, của nhân dân thế giới, của toàn thể nhân dân Việt Nam th́ đó là một sức mạnh to lớn trong đấu tranh giành công lư.

       Đấu tranh tại Ṭa là phải có chứng cứ. Để tiến hành vụ kiện thắng lợi, Việt Nam phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ pháp lư để chứng minh chủ quyền về lịch sử, về pháp lư và về thực tiễn đối với vùng lănh hải, vùng đặc quyền kinh tế, về các ḥn đảo trên biển Đông của Việt Nam và nộp ngay cho Thư kư Ṭa án ít nhất hai bộ hồ sơ cùng với đơn kiện. Theo lệnh của Chánh án, thư kư Ṭa sẻ chuyển ngay cho bị đơn đơn kiện và hồ sơ pháp lư của nguyên đơn. Xây dựng hồ sơ pháp lư là công việc đồ sộ, tỷ mỹ đ̣i hỏi có sự đóng góp của nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Để chuẩn bị có đủ hồ sơ pháp lư một cách thuyết phục th́ Việt Nam cần tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ, các tổ chức NGO, giới luật, các học giả, lănh đạo bảo tàng của các nước như Pháp, Bỉ, Thụy sỉ, Bồ Đào Nha, Mỹ và của các học giả Trung quốc. 

       Việc tiến hành vụ kiện sẻ tốn thời gian, có thể kéo dài hàng nhiều năm và rất tốn tiền bạc, sức lực. Nói chung diễn tiến vụ kiện sẻ kéo dài, chắc chắn là không dưới 10 năm. Cần chuẩn bị đủ nhân lực kế tiếp nhau cho vụ kiện.

        Bành trướng vốn là thuộc tính của giới cầm quyền Trung quốc qua nhiều thời đại. Tuy vậy trong 1,3 tỷ người dân Trung quốc không phải ai cũng nghe theo chính giới Trung quốc. Đă có không ít học giả Trung quốc lên tiếng phản đối hành vi ngang ngược của Chính phủ họ. Nhân dịp này, chúng ta nên xúc tiến mạnh hơn việc đấu tranh ngoài ṭa để đ̣i công lư cho nhân dân Việt Nam. Trong nhân dân ta, nhất là các thế hệ trẻ, có nhiều người chưa hiểu được hết các mối quan hệ sóng gió giửa hai nước. Lịch sử là lịch sử vốn có của nó. Không thể lẫn tránh hoặc bóp méo, xuyên tạc. Thông qua các hồ sơ chuẩn bị cho vụ kiện cần biên soạn lại sách giáo khoa cho học sinh, sinh viên về lịch sử dựng nước và giữ nước của Tổ quốc ḿnh. Cần phổ biến rộng răi cho nhân dân trong nước, cho nhân dân Trung quốc và nhân dân thế giới biết sự thật về mộng bá chủ ngông cuồng của giới cầm quyền Trung quốc.V́ ḷng tham, Trung quốc đă không tự kiềm chế được ḿnh. Đó là yếu huyệt chết người, là gót chân A-sin của người khổng lồ./.

 
«  Trở về  
Thảo luận của bạn
Họ và tên
Địa chỉ hòm thư
Ý kiến của bạn
Ảnh mã bảo vệ
Đổi mã bảo vệ ấn F5
Mã bảo vệ:
Ảnh mã bảo vệ toàn là ký tự ( không có số )

Danh sách thảo luân:

    Những tin bài khác:
         •  Thủ lĩnh Ḷ Văn Hặc
         •  Hướng phong trào thi đua vào thực hiện nhiệm vụ chính trị
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 4: Thành công không được ca tụng
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 3: Khi tự do bị chối bỏ
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 2: Thành quả diệu kỳ của bản Hiến pháp tự do
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 1: Lời cảnh báo của Thomas Jefferson
         •  Kết hợp đấu tranh tại Ṭa với đấu tranh ngoài Ṭa.
         •  UNCLOS và mưu toan vô hiệu hóa UNCLOS của Trung quốc
         •  Phát biểu của Thủ tướng tại hội nghị ASEAN
         •  50 năm Khu tập thể quân đội Nam Đồng

 
ictgroup.vn