Tư liệu - Tài liệu
UNCLOS và mưu toan vô hiệu hóa UNCLOS của Trung quốc

    UNCLOS (1) và mưu toan vô hiệu hóa UNCLOS của Trung quốc.

           (5/6/2014)               Luật sư Lê Đức Tiết. PCNHDTVDC&PL UBTW MTTQVN.

 

                      A. Bối cảnh ra đời của UNCLOS 1982                                                                     

          Vào nửa sau thế kỹ XX, các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới tiến bộ như vũ bảo. Hiểu biết về biển, khả năng khai thác biển cả được mở rộng nhanh chóng. Biển cả không chỉ là môi trường giao thông đi lại. Biển cả c̣n là nơi cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp, là phương tiện mở rộng giao lưu giữa các nước. Các cường quốc hàng hải có những đội tàu và kỹ thuật đánh cá, kỹ thuật tiên tiến làm chủ các đại dương. Các nước ven biển, với nền khoa học kỹ thuật kém phát triển, nhận thấy tài nguyên biển của nước họ bị chiếm đoạt một cách bất công. Công bằng, công lư và hữu nghị trên biển cả trở thành mục tiêu đấu tranh nóng bỏng của các nước.

     “Quyền tự do biển cả” đă được đề cập đến từ thế kỷ thứ XVII. Các nước có hạm đội mạnh áp đặt chiều rộng lănh hải của mỗi nước trong phạm vi 3 hải lư. Bên ngoài phạm vi 3 hải lư là biển cả. Bên ngoài 3 hải lư, tàu thuyền dân sự, quân sự nước ngoài được tự do đi lại, được quyền tự do đánh bắt cá. Các nước có nền quốc pḥng kém phát triển có muốn mở rộng lănh hải của ḿnh cũng không thể làm ǵ khác hơn. Trong các cuộc hội nghị quốc tế về luật biển, tiếng nói thuộc về các nước đế quốc thực dân. Mong muốn mở rộng lănh hải, đảm bảo an ninh của các nước nhỏ ven biển bị các nước này ngăn cản. T́nh h́nh đă khác đi sau khi hệ thống các nước thuộc địa trên thế giới tan ră bởi thắng lợi vang dội của cuộc chiến tranh giải phóng tại Việt Nam, đặc biệt là từ sau chiến thắng chấn động địa cầu ở Điện biên phủ vào năm 1954. Một loạt các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh, Trung cận đông giành được Độc lập. Tuy đă thoát khỏi chế độ thuộc địa, nhưng họ vẫn là những nước chậm phát triển, kém phát triển, đang phát triển. Các nước này được gọi là thế giới thứ ba. Họ chiếm đa số trên diễn đàn Liên hiệp quốc và các diễn đàn quốc tế khác. Tiếng nói của thế giới thứ ba ngày càng có trọng lượng. Các cường quốc hàng hải không thể thao túng các diễn đàn quốc tế như trước. Trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc “đồng thuận” dần dần thay thế cho nguyên tắc “đa số”. Nguyên tắc đồng thuận đă hạn chế được phần nào những thủ đoạn chèn ép, mua chuộc, đe dọa của các nước lớn đối với các nước nhỏ. Một trật tự thế giới mới, trong đó trật tự pháp quyền với vai tṛ, ư nghĩa là trật tự tiên phong, dẫn đầu, trật tự làm cơ sở pháp lư , trật tự hậu thuẫn, bảo đảm cho các trật tự khác, đang h́nh thành.

        UNCLOS 1982 được bàn thảo, chấp thuận trong bối cảnh lịch sử  đă nêu.

                 B.  UNCLOS 1982 -Tiến bộ nhảy vọt về công pháp quốc tế.

      Như đă nói ở trên, vào nửa sau thế kỹ XX, mong muốn thiết lập một nền trật tự pháp quyền mới nhằm khai thác, bảo vệ biển cả - món quà thiên nhiên ban tặng chung cho loài người, một cách công bằng, hợp lư trở thành nguyện vọng nóng bỏng của cả loài người. Các nước mong muốn có một công ước quốc tế về luật biển mà nội dung loại trừ được những bất cập trong các văn bản cũ cùng loại và phù hợp với những thành tựu của nền khoa học kỹ thuật hiện đại, phù hợp với luật cân bằng môi trường sinh thái của tự nhiên. UNCLOS 1982 được khởi thảo từ năm 1973 cho đến năm 1982. Trong 10 năm đấu tranh căng thẳng trên các diển đàn xoay quanh nhiều chủ đề gai gốc, tưởng chừng khó t́m ra lối thoát nhưng rồi cuối cùng tất cả các nước đều đi đến thống nhất và đă đạt được sự đồng thuận về những vấn đề cốt lơi sau đây:

      I. Tư tưởng xuyên suốt của Công ước 1982:

     Trong phần mở đầu của Công ước, các quốc gia thành viên trịnh trọng tuyên bố:

    Công ước là một cống hiến quan trọng vào việc giữ ǵn ḥa b́nh, công lư và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới. Công ước với sự quan tâm đúng mức đến chủ quyền quốc gia, thiết lập được một trật tự pháp lư cho các biển và đại dương làm dễ dàng cho việc sử dụng công bằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật của các biển và đại dương, việc nghiên cứu, bảo vệ và giữ ǵn môi trường biển. Việc thực hiện các mục tiêu này sẽ góp phần thiết lập một nền tŕnh tự kinh tế quốc tế đúng đắn và công bằng, trong đó có tính đến lợi ích và nhu cầu của toàn thế giới loài người và đặc biệt là các lợi ích và nhu cầu riêng của các nước đang phát triển, dù có biển hay không có biển”.(trích nguyên văn của UNCLOS)

       Toàn bộ những quan điểm được nêu trong phần mở đầu là những sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các chương điều và các phụ lục của UNCLOS 1982.

       II. Phân chia vùng biển một cách công bằng.

       Theo UNCLOS 1982, biển được phân thành các vùng nước: nội thủy, lănh hải 12 hải lư, vùng tiếp giáp lănh hải 12 hải lư, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư, thềm lục địa không quá 350 haỉ lư tính từ đường cơ sở và biển cả, c̣n gọi là vùng biển quốc tế. Các nước ven biển có quyền chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với nội thủy, lănh hải, tiếp giáp lănh hải, đặc quyền kinh tế theo quy định của UNCLOS. Tất cả các nước đều có quyền tự do biển cả đối với vùng biển quốc tế. Tàu thuyền nước ngoài có quyền “đi qua không xâm hại” vùng lănh hải của nước ven biển. Nước có chủ quyền được độc quyền thăm ḍ, khai thác, quản lư và bảo tồn tài nguyên trong nước, đáy biển, trong đất trong vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh. Tàu thuyền nước ngoài được quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, được đặt cáp ngầm, ống dẫn ngầm trong vùng đặc quyền kinh tế nhưng không được gây hại đối với nước có chủ quyền. Các nước không có biển được quyền có đường thông ra biển thông qua lănh thổ của nước tiếp giáp với biển.

     Đây là cách phân chia vùng biển một cách hợp lư và công bằng nhất đối với tất cả các nước. Không thể mở rộng hơn chiều rộng các vùng biển. Nước có tên lửa vượt đại dương không thể đ̣i hỏi có vùng biển rộng hơn. Tất cả các nước đều có phần thỏa đáng khi khai thác các nguồn lợi từ biển. Quyền và trách nhiệm luôn đi đôi. Tất cả các nước lớn, nhỏ, nước có biển, nước không có biển đều có quyền và có trách nhiệm rất cụ thể. Không ai có thể chọn trước cha mẹ để đầu thai. Không ai có thể chon trước cho ḿnh màu da, sắc tộc, dân tộc, quốc gia để trở thành công dân. Nhưng tất cả mọi người trên thế giới đều thấy được quốc gia ḿnh, dân tộc ḿnh, cá nhân ḿnh đều được hưởng quyền lợi từ biển cả trong bửa cơm hàng ngày của ḿnh. Công bằng và công lư đă được xác lập trên các vùng biển.

     III. Thống nhất quy tắc trong xác định ranh giới, phạm vi các vùng biển:

     UNCLOS 1982 quy định rất cụ thể về:

     - Cách xác định ranh giới nội thủy, vịnh, cảng biển, vũng tàu, đảo độc lập có người ở, đảo không có người ở, các băi cạn, các đảo nữa ch́m, nữa nổi, các công tŕnh nhân tạo trên biển;

     - Cách vẽ các đường cơ sở, đường lănh hải, đường tiếp giáp lănh hải, đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước ven biển, của các quốc gia quần đảo, của các đảo có người ở, của các đảo không có người ở;

     - Cách phân chia vùng biển giữa các nước có vùng biển chồng lấn lên nhau.

     Sự quy định này của UNCLOS làm giảm thiểu tối đa các mưu toan mở rộng các vùng biển một cách tùy tiện dẫn đến các tranh chấp.

     IV. Thành lập các tổ chức tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp:

    Nguyên tắc bao trùm trong giải quyết tranh chấp theo điều 299 của UNCLOS là các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xẩy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp ḥa b́nh theo đúng điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên hiệp quốc (2).

    UNCLOS đă thành lập các tổ chức: 1) Ủy ban ḥa giải; 2) Ṭa án quốc tế về luật biển; 3) Ṭa Trọng tài; 4) Ṭa Trọng tài đặc biệt và 5) Các viện ad-hoc (đặc biệt) để giải quyết bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng hiệp ước hoặc công ước. Ṭa án được để ngơ cho các quốc gia thành viên. Ṭa án cũng được để ngơ cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên. Khi một trong các bên không ra Ṭa án hay không tŕnh bày lư lẽ của ḿnh, th́ bên kia có thể yêu cầu Ṭa án tiếp tục tŕnh tự tố tụng và ra quyết định. Phán quyết của Ṭa án có tính chất tối hậu và tất cả các bên trong vụ tranh chấp đều phải tuân theo.(Trích nguyên văn của UNCLOS)

    V.Tham gia Công ước:

    Điều 309 Công ước quy định: “Công ước không chấp nhận bảo lưu, cũng không chấp nhận ngoại lệ ngoài những điều đă được các điều khác của Công ước cho phép một cách rơ ràng.” Quốc gia tham gia Công ước bắt buộc phải chấp nhận trọn gói. Tính đồng thuận trong gia nhập và thi hành Công ước được bảo đảm ở mức độ cao nhất. Điều này chưa từng xẩy ra trong các hiệp ước, công ước quốc tế trước đây. Điều 317 c̣n quy định: “Một quốc gia thành viên có thể từ bỏ công ước…Việc từ bỏ cũng không làm cho quốc gia tránh khỏi các nghĩa vụ về mặt tài chính và hợp đồng mà họ phải đảm nhận, khi mà quốc gia c̣n là thành viên của Công ước và việc từ bỏ cũng không ảnh hưởng đến các quyền, nghĩa vụ hay các địa vị pháp lư của quốc gia này bắt nguồn từ việc áp dụng Công ước, trước khi Công ước không c̣n hiệu lực đối với quốc gia đó”. (trích nguyên văn)

 

     Chỉ xét trên các điểm I. II. III. IV và V đă nêu trên, cho thấy UNCLOS 1982 là một bước tiến bộ nhảy vọt về mặt kỹ thuật luật pháp, về tính khả thi và về ảnh hưởng, tác động tích cực của Công ước đối với nhân loại. Trong hoàn cảnh quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng th́ có thể khẳng định đây là mẫu mực cho việc soạn thảo và thực thi các Công ước quốc tế.

       

C.     Mưu toan vô hiệu hóa UNCLOS của chính giới Trung quốc.

      Cách vẽ ra đường chín khúc, c̣n gọi là đường chữ U, hoặc đường lưỡi ḅ và yêu sách chủ quyền gần toàn bộ biển Đông của Trung quốc là một đ̣i hỏi ngang ngược, là hành động khiêu khích – theo lời Tổng thống Mỹ, đối với an ninh, an toàn hàng hải thế giới. Khi bị chất vấn về cơ sở lịch sử, pháp lư, thực tiễn của yêu sách chủ quyền lănh thổ, về cơ sở pháp lư của đường 9 đoạn, không một ai trong các học giả và giới cầm quyền Trung quốc trả lời được. Cuối cùng họ nói thẳng ra rằng UNCLOS 1982 không áp dụng đối với đường lưỡi ḅ. Nói một cách khác Trung quốc đang t́m mọi cách để vô hiệu hóa UBCLOS 1982 cho dù họ chưa dám công khai bộc lộ.

     Một câu hỏi được đặt ra là v́ những mục đích, động cơ ǵ khiến Trung quốc ngang nhiên thách thức với trật tự mới của thế giới đang h́nh thành? Trả lời cho câu hỏi này không quá khó v́ chính giới Trung quốc, tự họ, đă nói ra:

     1) Trung quốc nuôi tham vọng làm bá chủ thế giới. Trung quốc không hề dấu diếm ư đồ này. Từ khi trở thành ngôi nh́, Trung quốc công khai cổ vũ cho việc thúc đẩy Trung quốc nhanh chóng vượt Mỹ và trở thành cường quốc số 1 thế giới về kinh tế, quốc pḥng. Trung quốc tung người và tiền của đi vơ vét tài nguyên của các nước khắp thế giới. Trung quốc đang t́m cách mở thông đường từ Trung quốc thâm nhập vào các biển Địa trung hải, Ấn độ dương, Vịnh Thái lan thông qua việc đầu tư xây dựng các cảng biển với các nước có liên quan. Trung quốc đang ḍm ngó đến các nguồn lợi dầu mỏ, khoáng sản ở Bắc băng dương và Nam băng dương. Trung quốc đang mưu toan ôm trọn mọi nguồn lợi của thế giới vào tay ḿnh. Chính người Trung quốc xưa, khi trả lời Khổng tử, đă nói rằng ở gần thú dữ không sợ bằng sống bên cạnh kẻ tham. Thú dữ không săn mồi khi no. Nhưng ḷng tham của con người th́ không đáy.

      2) Trung quốc cảm thấy nay đă đủ lông, đủ cánh chi phối, lũng đoạn thế giới. Họ cho rằng trong thế chân vạc hiện nay, cả Mỹ lẫn Nga đều cần liên minh với Trung quốc để chống lại đối thủ của nhau. Trung quốc dễ dàng chơi con bài tọa sơn quan hổ đấu để ngồi giữa hưởng lợi. Điều này cắt nghĩa tại sao Trung quốc thường bỏ phiếu trắng tại Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Ngoài Mỹ và Nga, không một nước nào dám thách thức Trung quốc. Trái lại các nước luôn cầu cạnh Trung quốc v́ Trung quốc là thị trường lớn, là công xưởng lớn của thế giới. Tính hung hăng, ngang ngược của Trung quốc trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là đối với các nước ASEAN, bắt nguồn từ sự ngộ nhận này.

      3) Trong thế chân vạc hiện nay, Trung quốc tự dành cho ḿnh phần châu Á là phần bánh ngon và dễ nuốt nhất. Không một đối thủ nào ở châu Á có thể địch nổi Trung quốc. Trong các đối thủ châu Á th́ các nước khối ASEAN là yếu nhất. Nếu độc chiếm được biển Đông th́ Trung quốc chiếm được nguồn tài nguyên phong phú nhất, dễ khai thác nhất và gần nhất với Trung quốc. Chiếm được biển Đông, Trung quốc sẽ là người giữ chốt đóng mở và dễ dàng khống chế con đường giao lưu huyết mạch từ Ấn độ dương sang Thái b́nh dương, từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây và ngược lại.

      4) Khuất phục Việt Nam là khâu đột phá. Trong các nước ASEAN, Trung quốc cho rằng Việt Nam là nước khó khuất phục nhất. Trong lịch sử hàng ngàn năm qua, Việt Nam luôn là cánh cửa thép chặn đứng mưu đồ Trung quốc tiến xuống phía Nam và tiến sang phía Tây. Trung quốc cho rằng hiện nay có thể khuất phục được Việt Nam bằng hai cách: dùng sức mạnh quân sự vào lúc bất ngờ nhất,  nhanh nhất để ngoạm dấn từng miếng một, biến vùng không có tranh chấp thành vùng có tranh chấp để ép Việt Nam nhân nhượng. Mặt khác Trung quốc là bậc thầy và rất kiên tŕ, dày công trong việc ru ngủ khiến Việt Nam mất cảnh giác bằng những ngôn từ rất bùi tai.

     Khuất phục Việt Nam là khâu đột phá trong quá tŕnh khuất phục ASEAN. Chính giới Trung quốc cam kết rằng nếu thế hệ hiện nay chưa làm được th́ con cháu họ sẽ tiếp tục. Trăm năm sau, ngàn năm sau, họ vẫn tiếp tục mưu đồ này.

           D. Gieo gió sẽ gặt băo.

      Nhiều học giả và chính giới nhận định rất đúng rằng Trung quốc là một gă khổng lồ nhưng không tự kiểm soát được ḿnh, đúng hơn là mất kiểm soát bản thân. Điều nguy hiểm nhất là Trung quốc đang hành động ngược lại xu thế của thời đại, ngược lại quy luật cân bằng lợi ích. Trung quốc mưu toan tự đặt ra luật để buộc các nước khác phải tuân theo. Tính bất khả thi trong mưu toan làm bá chủ thế giới, làm kẻ thống trị châu Á và độc chiếm biển Đông làm ao nhà của Trung quốc bắt nguồn từ những tính toán sai lầm đó. Đă qua rồi thời kỳ thực dân dùng vũ lực đi xâm chiếm đất đai, tài nguyên của nước khác. Chính sách ngoại giao pháo hạm cũng đă trở nên lỗi thời. Cho dù Trung quốc có trở thành cường quốc số 1 của thế giới th́ một ḿnh Trung quốc không thể hành động trái xu thế thời đại, trái quy luật và trái lẽ công bằng về lợi ích. Trung quốc không thể xé bỏ UNCLOS 1982 cho dù trong thâm tâm họ muốn từ bỏ nó. Từ bỏ UNCLOS 1982 đồng nghĩa với việc Trung quốc một ḿnh chống lại 160 quốc gia thành viên của UNCLOS, một ḿnh chống lại trên 5 tỷ người trên trái đất, một ḿnh chống lại công bằng, công lư, chống lại nền trật tự mới trên biển cả đă được UNCLOS 1982 xác lập. Trung quốc làm sao đ̣i các nước không can thiệp vào tranh chấp ở biển Đông khi việc độc chiếm biển Đông xâm phạm đến quyền mưu sinh, nói một cách dân giả là xâm phạm đến bát cơm manh áo của nhân dân nhiều nước trên thế giới ?. Trung quốc rất sợ quốc tế hóa, sợ đưa vụ việc ra trước Ṭa án quốc tế. Nhưng hành vi ngang ngược của họ lại thúc đẩy điều họ không muốn nhanh chóng xẩy ra.

     V́ quyền lợi thiết thân của ḿnh, nhân dân, chính giới các nước trên thế giới đă lên tiếng phản đối quyết liệt hành động ngang ngược của Trung quốc.

     Nhân dân thế giới rất có cơ sở để lo ngại về điều ai đó có thể đoán trước được rằng sau đây 10 năm, 20 năm sẽ có một anh chàng hảo hán vô danh tiểu tốt nào đó phóng bút vẽ ra đường 9, 10 đoạn ôm trọn lấy Ấn độ dương, tiếp đến sau 30, 50 năm một đường lưỡi ḅ khác ôm trọn biển Thái b́nh Dương rồi tuyên bố đó là vùng biển thuộc quyền quản lư của Trung quốc từ mấy ngàn năm trước (!). Trung quốc ngày nay không thể nói như các vị hoàng đế tiền bối của họ rằng tất cả đất đai trong thiên hạ đều thuộc nhà vua Trung quốc. Ngoài ra không thuộc ai cả. Trung quốc đang mạo hiểm đẩy thế giới đứng bên miệng hố chiến tranh. Chỉ một sơ suất, một tai nạn nhỏ trong hành động diễu vơ dương oai hàng ngày của Trung quốc có thể gây ra chiến tranh lớn. Nhiều khối liên minh đă h́nh thành để đối phó với các hành động ngang ngược của Trung quốc: liên minh Mỹ, Nhật, Hàn; liên minh Mỹ, Nhật, Ấn độ; liên minh Mỹ, Phi-lip-pin; liên minh Mỹ, Nhật, Úc; liên minh Nhật với các nước ASEAN; liên minh các nước ASEAN, liên minh Việt Nam Phi-lip-pin. Điều ǵ sẽ đến với Trung quốc khi toàn thế giới đoàn kết lại và đáp trả hành động gây chiến tranh của họ?  Chính giới Trung quốc không thể không suy tính đến điều này./.

      Các lập luận biện hộ cho yêu sách của Trung quốc.

-         Viện dẫn tư liệu ghi chép kết quả quan sát của người xưa.

-         Xuyên tạc công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Viện dẫn sai8 nguyên tắc Estoppell.

-         Trích dẫn sách giáo khoa cho học sinh lớp 9 và bản đồ năm    của Việt Nam.

-         Vận dụng quy định của UNCLOS về vùng biển để áp dụng đối đối với các   

     đảo chiếm đoạt bằng vủ lực của Việt Nam.

 

Giá trị pháp lư các chứng cứ về chủ quyền lănh thổ của Viêt Nam.

    

 _______

(1) UNCLOS: Công ước quốc tế về luật biển 1982, tên viết tắt bằng tiếng Anh: “United Nations Convention on Law of the sea”.

(2) Điều 2 khoản 3 Hiến chương Liên hiệp quốc: “Tất cả các thành viên Liên hiệp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp ḥa b́nh sao cho không tổn hại đến ḥa b́nh, an ninh quốc tế và công lư.”

 

 
«  Trở về  
Thảo luận của bạn
Họ và tên
Địa chỉ hòm thư
Ý kiến của bạn
Ảnh mã bảo vệ
Đổi mã bảo vệ ấn F5
Mã bảo vệ:
Ảnh mã bảo vệ toàn là ký tự ( không có số )

Danh sách thảo luân:

    Những tin bài khác:
         •  Thủ lĩnh Ḷ Văn Hặc
         •  Hướng phong trào thi đua vào thực hiện nhiệm vụ chính trị
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 4: Thành công không được ca tụng
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 3: Khi tự do bị chối bỏ
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 2: Thành quả diệu kỳ của bản Hiến pháp tự do
         •  Nợ công trong ṿng xoáy lịch sử - Kỳ 1: Lời cảnh báo của Thomas Jefferson
         •  Kết hợp đấu tranh tại Ṭa với đấu tranh ngoài Ṭa.
         •  Kiện hay không nên kiện Trung quốc?
         •  Phát biểu của Thủ tướng tại hội nghị ASEAN
         •  50 năm Khu tập thể quân đội Nam Đồng

 
ictgroup.vn